Cổng thông tin điện tử Hội Nông Dân tỉnh Kiên Giang

Phong trào khác

Xem với cỡ chữAA

PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP GÓC NHÌN TỪ CHÍNH SÁCH

(09:08 | 03/12/2021)

Phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã là chủ trương nhất quán và lâu dài của Đảng và Nhà nước. Với bản chất là tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác nông nghiệp giúp khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá tập trung quy mô lớn.

Theo Salvatore Di Falco, Melinda Smale (2008), hợp tác xã có thể giúp những người nông dân sản xuất riêng lẻ thu được nhiều giá trị từ sản phẩm cuối cùng hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng địa phương thông qua việc giảm chi phí giao dịch. Hợp tác xã tham gia liên kết giúp các hộ nông dân thành viên tăng khả năng đàm phán với với các cơ sở cung cấp vật tư đầu vào và các nhà thu mua sản phẩm nông nghiệp. Nghiên cứu của Yuniarati Pratiwi (2015) về hợp tác xã cà phê ở Indonesia đã cho thấy: Chính những điều kiện không thuận lợi của nông dân nhỏ đã trở thành động lực thúc đẩy họ tham gia vào hợp tác. Nghiên cứu D. Tosun et all (2013) cũng khẳng định hợp tác xã đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức mạnh đàm phán và do đó tối đa hóa tỷ lệ giá trị gia tăng tạo ra trong chuỗi mà các thành viên tham gia nhận được. Rozhan Abu Dardak (2015) cho rằng nếu hợp tác xã nông nghiệp được tổ chức tốt sẽ làm giảm bớt các khâu trung gian trong chuỗi, qua đó có thể giúp người nông dân được lợi nhiều hơn từ giá bán sản phẩm. Nhóm tác giả Yiching Song, Gubo Qi (2014) đã khẳng định hợp tác xã nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng cạnh tranh, giảm chi phí đầu tư và chi phí giao dịch, tăng giá trị giá tăng sản phẩm, giúp nâng cao thu nhập cho người nông dân ở Trung Quốc. Nghiên cứu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO, 2009) đã đánh giá hợp tác đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị nông sản như: tạo ra mối liên kết giữa nông dân và các tác nhân khác trong chuỗi giá trị; giúp người sản xuất quy mô nhỏ nâng cao khả năng đàm phán và tiếp cận thông tin thị trường; giúp người sản xuất tiếp cận với đầu vào rẻ hơn; bán sản phẩm với giá có lợi hơn. Ngoài ra, hợp tác xã có thể liên kết với các tổ chức tài chính và các nhà cung cấp dịch vụ kinh doanh để cùng nhau có được một thỏa thuận tốt hơn cho các thành viên hợp tác xã.

Kinh nghiệm thực tiễn trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng liên kết sản xuất có sự tham gia của hợp tác xã nông nghiệp sẽ giúp đem lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia: doanh nghiệp thu mua được nguyên liệu ổn định với số lượng lớn, đảm bảo chất lượng, đồng thời giảm bớt chi phí, công sức liên kết. Người nông dân giảm được chi phí sản xuất, bán được sản phẩm thuận lợi, đồng thời tăng vị thế, tiếng nói của mình đối với doanh nghiệp. Các hợp tác xã nông nghiệp tổ chức sản xuất quy mô lớn, hoạt động hiệu quả trong điều kiện tư liệu đất đai thuộc quyền sử dụng lâu dài của các hộ gia đình thành viên. Sự phát triển của kinh tế hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp ở Đồng bằng Sông Cửu Long tuy đã có những chuyển biến tích cực, nhưng nhìn chung còn chậm và chưa đồng đều, hợp tác xã trung bình, yếu kém còn chiếm tỷ lệ lớn. Điều này là do quá trình tiếp cận chính sách hiện nay chưa tạo được môi trường thuận lợi, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Do đó chưa thúc đẩy kinh tế tập thể phát triển bắt kịp với nhịp phát triển của các khu vực kinh tế khác. Trong phạm vi nghiên cứu này, nhóm tác giả phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hợp tác xã trong bối cảnh hiện nay và nêu lên một số giải pháp hỗ trợ thúc đẩy phát triển hợp tác xã từ góc nhìn chính sách.

Do đây không phải là một nghiên cứu hoàn toàn mới với cơ sở dữ liệu sơ cấp, kết quả của nghiên cứu này dựa trên phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá và tham vấn ý kiến chuyên gia từ nhiều công trình nghiên cứu có liên quan với các nguồn dữ liệu thứ cấp quan trọng để trình bày một cách có hệ thống. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu trước đây của tác giả/nhóm tác giả cũng đã được khai thác triệt để thông qua phương pháp phân tích tổng hợp nhằm đáp ứng mục tiêu của nghiên cứu.

 

Ảnh: Thu hoạch cá lóc của HTX Nông dân Thắng Lợi, phường Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá.

 

Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hợp tác xã

Yếu tố về điều kiện tự nhiên: Theo Nguyễn Thị Cần (2000), điều kiện tự nhiên của một nước, một địa phương có ảnh hưởng nhất định đến sự hình thành và phát triển của hợp tác xã. Các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa địa lý, diện tích, địa hình, khí hậu... Các yếu tố này có ảnh hưởng nhất định đến sự hình thành các loại hình hợp tác xã phù hợp, khả năng hoạt động, khả năng quản lý, khả năng lưu thông trao đổi giữa các hợp tác xã, giữa các thành viên hợp tác xã với nhau.

Yếu tố về môi trường kinh tế, xã hội: Môi trường kinh tế - xã hội là toàn bộ yếu tố kinh tế - xã hội có tác động trực tiếp hay gián tiếp tới sự hình thành và phát triển hợp tác xã. Yếu tố kinh tế bao gồm quy mô và trình độ phát triển của nền kinh tế. Từ đó tác động đến thu nhập, đến mức sống và khả năng tham gia đóng góp (đặc biệt là về mặt tài chính) của các thành viên khi tham gia vào hợp tác xã. Ngoài ra, trình độ kinh tế xã hội thấp, sản xuất còn mang nặng tính tự cấp, tự túc cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển hợp tác xã, không phù hợp kém hiệu quả.

Về xã hội: Dân cư đa dạng, phân tán gồm nhiều dân tộc dẫn đến nhiều tập quán phong tục khác nhau, cũng phần nào ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng hợp tác xã. Ngoài ra, sự ổn định về chính trị, quy mô, cơ cấu dân số, việc làm, trình độ của nguồn lao động; văn hóa... vũng là những yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt cho sự phát triển kinh tế nói chung cũng như cho sự phát triển của hợp tác xã nói riêng (Nguyễn Thị Cần, 2000).

Yếu tố về chính sách: Sự phát triển của hợp tác xã phụ thuộc khá lớn vào quan điểm đường lối lãnh đạo, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước. Quan điểm phù hợp là điều kiện để có được một hệ thống luật pháp và chính sách đúng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế hợp tác, hợp tác xã. Chính sách đúng đắn sẽ tạo động lực cho người lao động, các hợp tác xã và các thành viên tham gia tích cực vào phát triển sản xuất mở rộng kinh doanh, tăng trưởng cao và ổn định. Ngược lại chính sách không phù hợp sẽ tác động tiêu cực đến sự phát triển của hợp tác xã (Nguyễn Thị Cần, 2000).

Yếu tố nội tại của hợp tác xã: Ngoài các yếu tố bên ngoài vừa nêu trên ảnh hưởng đến sự phát triển của hợp tác xã và nằm ngoài khả năng kiểm soát thì còn có một số yếu tố thuộc năng lực nội tại của hợp tác xã mà có ảnh hưởng tương đối lớn đến quá trình phát triển hợp tác xã hiện nay. Năng lực nội tại bao gồm các yếu tố về điều kiện lao động, vốn, đất đai và tài nguyên, cơ sở vật chất - kỹ thuật từ sự đóng góp hoặc tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của hợp tác xã và các thành viên.

Lao động, sức lao động của thành viên, người lao động vừa là chủ thể, vừa là yếu tố “đầu vào” quyết định đến mọi hoạt động và sự phát triển của hợp tác xã. Cán bộ quản lý có năng lực chuyên môn, kinh nghiệm sẽ phát triển hợp tác xã hiệu quả hơn so với những người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc thấp hơn. Nguồn vốn của hợp tác xã quyết định đến đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất và tái đầu tư, áp dụng kỹ thuật tiên tiến và ứng dụng công nghệ mới. Đất đai và tài nguyên của hợp tác xã là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của hợp tác xã. Những hợp tác xã có diện tích đất canh tác lớn, nguồn tài nguyên phong phú sẽ có điều kiện phát triển nhanh hơn, bền vững hơn so với các hợp tác xã khác. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của hợp tác xã thể hiện trình độ của công cụ sản xuất, dịch vụ, kết cấu hạ tầng và là điều kiện quan trọng để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, khả năng hợp tác, cạnh tranh của hợp tác xã (Nguyễn Thị Cần, 2000).

Nghiên cứu của Dương Ngọc Thành và CTV (2018) “Đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động hợp tác xã nông nghiệp tại tỉnh An Giang” đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động hợp tác xã nông nghiệp tỉnh An Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã nông nghiệp chưa cao, chỉ có 55% hợp tác xã nông nghiệp được xếp loại mạnh, trung bình/yếu (45%). Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra khó khăn của hợp tác xã nông nghiệp là thiếu vốn (do số góp vốn của các thành viên hợp tác xã thấp, bình quân 100.000 đồng/thành viên hợp tác xã); và quy mô diện tích đất do hợp tác xã nông nghiệp quản lý thấp (do thành viên hợp tác xã tham gia vào hợp tác xã nông nghiệp có diện tích đất sản xuất ít, thấp nhất 0,2 ha). Đồng thời, qua phân tích cho thấy, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã bị tác động bởi các yếu tố: thời gian hình thành hợp tác xã, nguồn vốn, trình độ quản lý của Ban Giám đốc và hình thức hoạt động dịch vụ của hợp tác xã (Dương Ngọc Thành và ctv, 2018).

Nghiên cứu của Chu Tiến Quang (2012), về “Vai trò và giải pháp nâng cao vai trò của hợp tác xã đối với xã viên trong nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam” đã chỉ ra rằng mỗi hoạt động dịch vụ phục vụ thành viên của hợp tác xã chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, nảy sinh từ bên trong (yếu tố nội sinh) và từ bên ngoài hợp tác xã (yếu tố ngoại sinh). Từ đó, tác giả đã phân tích cụ thể các yếu tố nội sinh và ngoại sinh ảnh hưởng tới kết quả hoạt động từng dịch vụ của các loại hình hợp tác xã khác nhau. Mặc dù đã chỉ ra các yếu tố ngoại sinh và nội sinh tác động đến từng hoạt động dịch vụ của hợp tác xã là khác nhau, tác giả lại chưa đưa ra các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá tác động của các yếu tố này đến hoạt động của hợp tác xã.

 

Ảnh: Sản phẩm mô hình nuôi tôm-cua của HTX nông dân Thuận Phát, xã Đông Hưng, huyện An Minh.

 

Chính sách hỗ trợ, phát triển Hợp tác xã ở Việt Nam

Chính sách hỗ trợ, phát triển Hợp tác xã có thể được hiểu là các hoạt động nhằm nâng cao kết quả hoạt động của hợp tác xã cũng như tác động đến những người lãnh đạo, cán bộ hợp tác xã do Chính phủ ban hành. Mục tiêu của chính sách hỗ trợ, phát triển hợp tác xã đó là khuyến khích, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển hợp tác xã, tác động trực tiếp vào sản xuất, kinh doanh của kinh tế thành viên; tăng cường tính tự chủ, khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của hợp tác xã, nâng cao hơn nữa vai trò của hợp tác xã đối với sự phát triển, bảo đảm an sainh xã hội của đất nước; tăng cường năng lực cạnh tranh của kinh tế hộ gia đình đặc biệt là kinh tế hộ nông dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh quy mô vừa và nhỏ trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; góp phần ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của từng ngành trong phát triển kinh tế.

Thực hiện chính sách hỗ trợ, phát triển hợp tác xã được hiểu là tập hợp các hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương về hoạt động phát triển hợp tác xã nhằm triển khai thực hiện chính sách phát triển hợp tác xã từ Trung ương đến người nông dân. Các hoạt động này bao gồm tuyên truyền phổ biến chính sách, xây dựng kế hoạch triển khai, tổ chức triển khai, kiểm tra giám sát và đánh giá thực hiện của địa phương. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách ở mỗi địa phương là khác nhau do điều kiện kinh tế, tự nhiên, xã hội đặc thù mà từ đó cán bộ thực hiện có những kế hoạch thực hiện riêng cụ thể cho từng đơn vị để chính sách phát triển hợp tác xã đạt hiệu quả cao nhất.

Như vậy thực tế việc thực hiện chính sách hỗ trợ, phát triển hợp tác xã được hiểu là việc triển khai tổ chức thực hiện một tập hợp các hoạt động đào tạo cán bộ, tuyên truyền chính sách của Nhà nước về hợp tác xã có sự chỉ đạo của cơ quan Nhà nước và chuyên môn từ Trung ương đến địa phương đồng thời có sự phối hợp thực hiện với cộng đồng người dân địa phương trong quá trình thực hiện cũng như giám sát, đánh giá, kiểm tra.

Tiếp cận chính sách tài chính

Đây là một công cụ rất quan trọng, mang tính sống còn của Nhà nước trong việc điều hành và phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, đặc biệt là chính sách thuế, chính sách đầu tư, hỗ trợ đầu tư có tác động quyết định đến việc tồn tại, phát triển của hợp tác xã nông nghiệp. Sử dụng chính sách thuế như một công cụ hỗ trợ tài chính cho hợp tác xã nông nghiệp; Nhà nước đã ban hành chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong một thời gian nhất định đối với hợp tác xã nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản mới chuyển đổi hoặc thành lập mới; Ban hành chính sách miễn giảm thuế đối với hợp tác xã sản xuất hàng xuất khẩu, ngành nghề ưu đãi, ngành nghề mới.

Hợp tác xã nông nghiệp có những hoạt động dịch vụ phục vụ trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, làm muối như: tưới tiêu nước, làm đất, bảo quản hàng hóa, vật nuôi, cây trồng, bảo vệ thực vật, sản xuất và sửa chữa công cụ làm muối… thì không phải nộp thuế giá trị gia tăng vả được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 02 năm.

Nhà nước dùng một phần ngân sách để tạo lập một hệ thống các Quỹ hỗ trợ tài chính nhằm tạo ra công cụ tài chính năng động. Đồng thời, thông qua hệ thống này, đa dạng hóa sự huy động các nguồn lực tài chính của xã hội vào Nhà nước. Qua đó tiến hành hỗ trợ tài chính cho một số lĩnh vực hay hoạt động có tính chất ưu tiên cần khuyến khích nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Việc hình thành các Quỹ hỗ trợ tài chính của Nhà nước không những tạo thêm công cụ để gia tăng nguồn lực tài chính mà còn thực hiện tốt vai trò quản lý vĩ mô, thúc đẩy phát triển thị trường tín dụng của Nhà nước nhằm khai thác nội lực cho sự phát triển các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Tiếp cận các chính sách hỗ trợ

Luật Hợp tác xã 2012 mở rộng hơn phạm vi ưu đãi, hỗ trợ gắn với bản chất Hợp tác xã, mang lại lợi ích cho cộng đồng, chú trọng đối tượng thành viên là nông dân, người dân tộc thiểu số. Theo đó, Chính phủ quy định chi tiết các ưu đãi, hỗ trợ đối với Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động của Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã theo quy định của pháp luật về đất đai; ưu đãi về tín dụng; vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh; chế biến sản phẩm.

Chính sách đất đai

Sự phát triển của các hợp tác xã nông nghiệp gần như gắn liền với tư liệu sản xuất mà trong đó đất đai phục vụ cho sản xuất là yếu tố quan trọng. Bên cạnh đó, hợp tác xã có nhu cầu sử dụng đất để xây dựng trụ sở, nhà kho, sân bãi, cơ sở dịch vụ trực tiếp phục vụ thành viên hợp tác xã sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản phải được giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được ưu đãi trong nộp tiền sử dụng đất. Tuy nhiên, đối với các hợp tác xã đang sử dụng diện tích đất vào mục đích xây dựng trụ sở, nhà kho, sân bãi, cơ sở dịch vụ trực tiếp phục vụ thành viên sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, UBND các địa phương cần tạo điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất theo Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 cho các hợp tác xã.

Ưu tiên và khuyến khích các hợp tác xã thuê đất và sử dụng đất phục vụ sản xuất kinh doanh trên cơ sở chính sách ưu đãi về miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của Nhà nước. Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ hợp tác xã phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho các hợp tác xã nông nghiệp thuê lại đất, sử dụng đất của các tổ chức cá nhân để phát triển sản xuất kinh doanh nếu các hợp tác xã có nhu cầu.

Chính sách về thuế

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần hướng dẫn và đề nghị cơ quan liên quan thực hiện các chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã 2012. Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cho các hợp tác xã đối với phần thu nhập từ các hoạt động dịch vụ sản xuất kinh doanh của thành viên theo quy định của Luật thuế và các văn bản quy định khác của Nhà nước.

Chính sách tín dụng

Hiện nay, tình hình tiếp cận hỗ trợ tín dụng của các hợp tác xã còn khá khiêm tốn. Do đó, chính quyền địa phương cần làm việc với các tổ chức tín dụng để thảo luận, xây dựng các chính sách hỗ trợ các hợp tác xã tiếp cận với nguồn hỗ trợ tài chính nhằm hỗ trợ nguồn vốn cho các hợp tác xã hoạt động, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các hợp tác xã được vay vốn trong các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng trên địa bàn huyện, tỉnh để đầu tư phát triển dịch vụ, sản xuất, kinh doanh. Khuyến khích và tạo điều kiện tốt nhất để các hợp tác xã vay vốn các tổ chức tín dụng theo chính sách tín dụng nông nghiệp nông thôn của Nhà nước theo quy định.

Cụ thể:

+ Hợp tác xã có dự án đầu tư mới, đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển theo quy định của Nhà nước.

+ Các hợp tác xã có nhu cầu vay vốn từ các tổ chức tín dụng để đầu tư mới, đầu tư nâng cấp, mở rộng năng lực sản xuất kinh doanh, dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế và đời sống thành viên, thì các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi cho vay vốn và áp dụng hình thức bảo hiểm tiền vay phù hợp với các quy định của Nhà nước.

Đổi mới công tác quản lý tài chính trong hợp tác xã

Để công tác quản lý tài chính trong các hợp tác xã nông nghiệp đi vào nề nếp, tạo cơ sở để thực hiện tốt hơn chức năng, đồng thời giải quyết những vấn đề vướng mắc về quản lý tài chính: vốn, công nợ, tiền công cán bộ quản lý - thành viên và người lao động, quản lý tài sản của hợp tác xã… Đây là một yêu cầu cần thiết có tác động trực tiếp đến quá trình phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp. Do đó, các hợp tác xã nông nghiệp cần xác định rõ tài sản của hợp tác xã gồm những gì; việc góp vốn, huy động vốn, thế chấp tài sản vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh như thế nào để từ đó có phương pháp quản lý hiệu quả.

Đối với quản lý doanh thu, chi phí, cần có phương pháp hạch toán rõ ràng doanh thu của hợp tác xã từ đầu; các chi phí hợp lý gồm chi phí trực tiếp, gián tiếp, giá thành sản phẩm, dịch vụ... Các hợp tác xã cần phải minh bạch hóa vấn đề phân phối lãi của hợp tác xã, cần thống nhất ý kiến của các thành viên, cụ thể đối với từng hợp tác xã, từng lĩnh vực kinh doanh mà đưa ra những cơ chế, chính sách tài chính nội bộ hợp tác xã một cách hợp lý, trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích hợp tác xã và cộng đồng.

Thực hiện tốt chế độ kế toán trong các hợp tác xã

Các hợp tác xã cần nhận thức rõ được tầm quan trọng của hệ thống kế toán trong hợp tác xã. Trong đó, chế độ quản lý báo cáo tài chính cũng cần được nghiên cứu cụ thể để làm sao cơ quan quản lý Nhà nước có thể kiểm tra giám sát được hoạt động tài chính của các hợp tác xã nông nghiệp theo hướng tách bạch được các chỉ tiêu: Bảng cân đối tài sản, bảng cân đối kế toán, báo cáo doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận của hợp tác xã, bảng cân đối vốn, nguồn vốn của hợp tác xã. Các báo cáo cần được gửi cho cơ quan quản lý tài chính, cơ quan thuế, cơ quan thống kê và phải được đảm bảo minh bạch, rõ ràng thể hiện rõ về nguồn vốn kinh doanh, quỹ hợp tác xã, công nợ, kết quả kiểm tra tài sản cuối năm và được công bố trước thành viên hợp tác xã trong các cuộc họp, đại hội thường niên của hợp tác xã.

Tóm lại, trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, việc nghiên cứu tiếp cận chính sách cho hợp tác xã nông nghiệp trong thời kỳ hội nhập là thực sự cần thiết. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về hợp tác xã chứng tỏ kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã có vị trí, vai trò quan trọng, cùng với kinh tế Nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc trong nền kinh tế quốc dân; ngoài việc đóng góp tăng trưởng kinh tế còn có ý nghĩa xã hội quan trọng tại mỗi địa phương. Sự phát triển của hợp tác xã nông nghiệp còn gặp không ít khó khăn, trong đó yếu tộ nội tại từ nguồn lực con người, đội ngũ vận hành hợp tác xã vẫn còn hạn chế về năng lực và trình độ. Việc tiếp cận chính sách hỗ trợ từ Nhà nước trong thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển hợp tác xã. Tuy nhiên, chính quyền địa phương cần có những hỗ trợ linh hoạt hơn trong việc tiếp cận chính sách tài chính cho hợp tác xã.

Phạm Ngọc Nhàn¬¬-Đại học UEH, Phân hiệu Vĩnh Long; Hà Phi Hùng-Hội Nông dân tỉnh Kiên Giang